Trong thực tế, việc tặng cho quyền sử dụng đất bằng miệng thường gặp, nhưng liệu điều này có hợp pháp và hiệu lực hay không? Bài viết này sẽ đi sâu vào vấn đề này, giúp độc giả hiểu rõ hơn về quy định pháp luật và tác động của việc tặng đất bằng miệng. Hãy đọc tiếp để khám phá!
1. Cho tặng đất được hiểu như thế nào?
Quyền hiến đất, một trong những quyền quản lý đất, bao gồm chuyển nhượng, thừa kế, và hiến tặng, đang được quy định rõ trong pháp luật hiện nay. Theo quy định, người sử dụng đất hoặc chủ sở hữu đất có quyền tặng đất mà không cần phải lập văn bản đồng ý từ bên nhận đất. Thay vào đó, việc này có thể thực hiện thông qua các hợp đồng dân sự, tuân thủ theo quy định của pháp luật về dân sự và các văn bản liên quan.
Hiện nay, việc hiến đất phổ biến nhất là từ cha mẹ tặng cho con cái hoặc từ người sở hữu đất tặng cho người khác, bất kể là người thân hay không. Quá trình này không chỉ là việc chuyển giao vật chất mà còn là cách để bảo đảm tính liên tục của gia tài gia đình và thể hiện tình cảm, sự quan tâm của người tặng đất đối với người nhận.
2. Tặng cho nhà đất bằng miệng có được không?
Căn cứ khoản 1 Điều 188 Luật Đất đai 2013, điều kiện tặng cho quyền sử dụng đất như sau:
- Người tặng cho phải có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất;
- Đất muốn tặng cho phải đang không có tranh chấp.
- Quyền sử dụng đất có người tặng cho không bị kê biên để đảm bảo thi hành án.
- Trong thời gian sử dụng đất.
Bên tặng cho cần tuân thủ đầy đủ các điều kiện cho việc chuyển nhượng theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, trong một số trường hợp, người nhận cũng phải đáp ứng các điều kiện không thuộc diện cấm nhận quà, ngoài việc nhà tài trợ đáp ứng các điều kiện tương ứng.
Đối với quyền sử dụng đất và nhà ở, việc chuyển nhượng hoặc tặng cho phải được công chứng hoặc chứng thực theo quy định hiện hành. Theo Điều 502, Bộ luật Dân sự năm 2015, hợp đồng về quyền sử dụng đất và hợp đồng tặng cho phải được lập thành văn bản theo hình thức phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và các quy định khác liên quan, như luật đất đai.
Đồng thời, theo Luật Đất đai 2014 quy định rõ việc chuyển nhượng, tặng cho đất tại khoản 3 Điều 167 như sau:
“3. Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau:
a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này;
b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên;
c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự;
d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.”
Vì vậy, việc tặng cho đất phải được thực hiện qua văn bản và phải được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, do thiếu hiểu biết hoặc các nguyên nhân khách quan, nhiều trường hợp việc tặng đất chỉ được thể hiện bằng lời nói, không tuân thủ quy định về hình thức văn bản. Theo quy định của pháp luật, việc tặng đất bằng lời nói sẽ không có hiệu lực, khiến hợp đồng tặng cho đất trở nên vô hiệu vì không đáp ứng điều kiện hình thức cần thiết.
Tuy nhiên, trong trường hợp việc tặng đất là hoàn toàn tự nguyện, không gây tranh chấp và tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật, bên tặng đất vẫn thực hiện nghĩa vụ của mình. Ví dụ, việc nộp thuế được thực hiện đúng quy định. Do đó, trong trường hợp tranh chấp phát sinh, pháp luật vẫn sẽ bảo vệ các bên liên quan dựa trên các quy định và nghĩa vụ pháp lý của họ.
3. Trường hợp tặng cho bất động sản bằng miệng là hợp pháp?
Ngày 06/4/2016, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã thông qua án lệ 03/2016/AL về vụ án “Ly hôn”, trong đó nêu rõ án lệ như sau:
Trong trường hợp cha mẹ đã cho vợ chồng người con một diện tích đất và vợ chồng người con đã xây dựng, nhà kiên cố trên diện tích đất đó để làm nơi ở, khi vợ chồng người con xây dựng nhà thì cha mẹ và những người khác trong gia đình không có ý kiến phản đối gì; vợ chồng người con đã sử dụng nhà, đất liên tục, công khai, ổn định và đã tiến hành việc kê khai đất, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải xác định vợ chồng người con đã được tặng cho quyền sử dụng đất.
Theo nội dung án lệ nêu trên, việc cha, mẹ tặng đất bằng lời nói cho con vẫn có giá trị mà không phải công chứng, chứng thực hợp đồng theo quy định của pháp luật.
Câu hỏi thường gặp
Câu 1: Tại sao việc tặng đất cần phải được lập văn bản và công chứng theo quy định của pháp luật?
Điều này đảm bảo tính hợp pháp và rõ ràng của giao dịch, giúp tránh tranh chấp và bảo vệ quyền lợi của cả hai bên.
Câu 2: Điều gì xảy ra nếu việc tặng đất chỉ được thể hiện bằng lời nói mà không có văn bản?
Hợp đồng tặng cho đất sẽ trở nên vô hiệu do không đáp ứng được yêu cầu hình thức của pháp luật.
Câu 3: Nếu một bên tặng đất theo hình thức lời nói, liệu có cách nào để giải quyết vấn đề này?
Có thể thực hiện lại giao dịch và lập hợp đồng mới theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tính hiệu lực của giao dịch.
Câu 4: Pháp luật bảo vệ nhóm đối tượng nào trong trường hợp việc tặng đất gây tranh chấp?
Pháp luật sẽ bảo vệ các bên liên quan dựa trên các quy định và nghĩa vụ pháp lý của họ, nhưng cần dựa vào từng trường hợp cụ thể để xem xét và giải quyết.


HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN