Quyền sử dụng đất là tài sản gì?

Quyền sử dụng đất là tài sản gì? Quyền sử dụng đất được xem là quyền tài sản, là một loại nguồn vốn dùng để góp vốn kinh doanh. Nếu đáp ứng đủ các quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC thì quyền sử dụng đất sẽ là tài sản cố định vô hình.

Quyền sử dụng đất là loại tài sản nào?

Theo Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 và Điều 115 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định:

“Điều 105. Tài sản

  1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
  2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.

…

Điều 115. Quyền tài sản

Quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài sản khác.”

Do đó, quyền sử dụng đất được xem là quyền tài sản.

Quyền sử dụng đất được xem là tài sản cố định vô hình hay tài sản cố định hữu hình?

Căn cứ theo Điều 3 Thông tư 45/2013/TT-BTC Có quy định các tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định như sau:

“Điều 3. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định:

1. Tư liệu lao động là những tài sản hữu hình có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu thiếu bất kỳ một bộ phận nào thì cả hệ thống không thể hoạt động được, nếu thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn dưới đây thì được coi là tài sản cố định:

a) Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó;

b) Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên;

c) Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên.

Trường hợp một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên kết với nhau, trong đó mỗi bộ phận cấu thành có thời gian sử dụng khác nhau và nếu thiếu một bộ phận nào đó mà cả hệ thống vẫn thực hiện được chức năng hoạt động chính của nó nhưng do yêu cầu quản lý, sử dụng tài sản cố định đòi hỏi phải quản lý riêng từng bộ phận tài sản thì mỗi bộ phận tài sản đó nếu cùng thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một tài sản cố định hữu hình độc lập.

Đối với súc vật làm việc và/hoặc cho sản phẩm, thì từng con súc vật thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của tài sản cố định được coi là một TSCĐ hữu hình.

Đối với vườn cây lâu năm thì từng mảnh vườn cây, hoặc cây thoả mãn đồng thời ba tiêu chuẩn của TSCĐ được coi là một TSCĐ hữu hình.

2. Tiêu chuẩn và nhận biết tài sản cố định vô hình:

Mọi khoản chi phí thực tế mà doanh nghiệp đã chi ra thoả mãn đồng thời cả ba tiêu chuẩn quy định tại khoản 1 Điều này, mà không hình thành TSCĐ hữu hình được coi là TSCĐ vô hình.”

…

Như vậy, quyền sử dụng đất chỉ là quyền tài sản, không hình thành tài sản cố định hữu hình được. Nếu đáp ứng đủ các quy định tại khoản 1 thì quyền sử dụng đất sẽ là tài sản cố định vô hình.

Bên cạnh đó, Điều 4 Thông tư 45/2013/TT-BTC cũng đã quy định về tài sản cố định vô hình là quyền sử dụng đất.

Quyền sử dụng đất được xem là tài sản hay nguồn vốn

Quyền sử dụng đất được xem là một loại nguồn vốn quan trọng trong việc góp vốn vào doanh nghiệp. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2020, tài sản góp vốn không chỉ giới hạn ở tiền mặt, ngoại tệ hay vàng mà còn bao gồm quyền sử dụng đất, quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ và các tài sản khác có thể định giá bằng tiền. Điều này cho phép cá nhân hoặc tổ chức sử dụng quyền sử dụng đất của mình như một nguồn vốn để đầu tư vào doanh nghiệp, với điều kiện là họ phải là chủ sở hữu hợp pháp hoặc có quyền sử dụng hợp pháp đối với tài sản đó. Như vậy, “quyền sử dụng đất chính là một loại nguồn vốn dùng để góp vốn kinh doanh.”

Câu hỏi thường gặp

  1. Câu hỏi: Điều gì là trọng tâm của Nghị quyết số 18-NQ/TW về quản lý và sử dụng đất?

Câu trả lời: Trọng tâm của Nghị quyết số 18-NQ/TW là khẳng định quan điểm đất đai thuộc sở hữu toàn dân, đồng thời đề xuất các biện pháp nhằm tạo động lực cho phát triển đất nước và hướng tới trở thành nước có thu nhập cao. Quyết định xác định rõ ràng quyền sử dụng đất, không phải là quyền sở hữu, và Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý.

  1. Câu hỏi: Mục tiêu chính của việc sửa đổi Luật đất đai và các luật liên quan là gì?

Câu trả lời: Mục tiêu chính của việc sửa đổi Luật đất đai và các luật liên quan trước năm 2023 là đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất trong quản lý đất đai. Ngoài ra, nghị quyết còn nhấn mạnh việc xây dựng cơ sở dữ liệu số và hệ thống thông tin quốc gia về đất đai để thống nhất, đồng bộ hóa, và kết nối liên thông thông tin.

  1. Câu hỏi: Nghị quyết 18 đề cập đến những vấn đề cụ thể nào trong quản lý và sử dụng đất?

Câu trả lời: Nghị quyết 18 đề cập đến nhiều vấn đề cụ thể trong quản lý và sử dụng đất, bao gồm đất quốc phòng, an ninh kết hợp với sản xuất, đất của các cơ sở sản xuất di dời khỏi trung tâm đô thị, đất lấn biển, đất tôn giáo, và nhiều loại đất khác. Mục tiêu là hoàn thiện hệ thống pháp luật về đất đai đến năm 2030, phù hợp với thể chế phát triển nền kinh tế thị trường theo hình thức xã hội chủ nghĩa.

  1. Câu hỏi: Làm thế nào Nghị quyết 18 giải quyết vấn đề lãng phí đất và ảnh hưởng của nó đến phát triển kinh tế – xã hội?

Câu trả lời: Nghị quyết 18 đặt ra nhiệm vụ quan trọng là khắc phục tình trạng lãng phí đất và ngăn chặn đất hoang hóa, ô nhiễm, và suy thoái môi trường. Sửa đổi Luật đất đai là trọng tâm, với việc đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất, và đáp ứng đúng yêu cầu của giai đoạn phát triển mới. Các biện pháp bao gồm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, quy định về giao đất, cho thuê đất, và chuyển mục đích sử dụng đất, cũng như việc hoàn thiện quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và thu hồi đất.

HÃY ĐỂ LẠI THÔNG TIN TƯ VẤN

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *